Các phương pháp chẩn đoán bệnh trào ngược dạ dày, viêm loét

Trào ngược dạ dày thực quản là gì? Trong 3 tháng đầu đời, trẻ thường bị trào ngược dạ dày thực quản sinh lý. Tình trạng này sẽ giảm dần khi trẻ lớn và chế độ ăn đặc dần. Dạ dày trẻ sơ sinh chưa phát triển hoàn thiện và dạ dày nằm ngang, cao hơn so với người lớn. Các cơ thắt ở hai đầu dạ dày hoạt động chưa ổn định. Đặc tính của thức ăn chủ yếu dạng lỏng (sữa mẹ hoặc sữa công thức).

Biểu hiện người bệnh bị trào ngược dạ dày

Biểu hiện người bệnh bị trào ngược dạ dày

Khiến sữa đưa vào dạ dày dễ bị lọt ra ngoài dù chỉ có khe hở nhỏ. Đặc biệt ở trẻ ăn sữa công thức, trẻ dễ bị trào ngược dạ dày thực quản hơn do sữa lâu tiêu. Tư thế bú của trẻ và sau khi bú cũng là nguyên nhân gây dạ dày thực quản. Khám lâm sàng và cận lâm sàng tìm ra nguyên nhân trào ngược sinh lý hay bệnh lý, tìm dấu hiệu dị ứng, biến chứng bệnh.

Nên chẩn  đoán và thăm khám trào ngược dạ dày thực quản như thế nào ?

Điều trị dạ dày trào ngược bằng thuốc như prokinetic, H2RA, ức chế bơm proton cho trẻ. Khám và điều trị bằng hệ thống trang thiết bị hiện đại hỗ trợ tốt cho quá trình chẩn đoán và điều trị bệnh. . Đi khám lại bác sĩ nói vết loét trong dạ dày đã lành. Thật may có các bác sĩ tận tình giúp đỡ. Gia đình biết ơn rất nhiều”.

Chẩn đoán trào ngược dạ dày bằng cách nào ?

Chẩn đoán trào ngược dạ dày bằng cách nào ?

Chụp thực quản cản quang không nhạy trong chẩn đoán trào ngược, bệnh viêm loét dạ dày. Đo áp lực thực quản hay nhu động thực quản được chỉ định để loại trừ các rối loạn cơ vòng nguyên phát khi có nghi ngờ và cũng để loại trừ tình trạng không có nhu động thực quản. Việc nội soi nên thực hiện trong vòng 6 tháng trước khi có kế hoạch phẫu thuật để loại trừ các bệnh khác. Nếu không khó nuốt : tiếp tục dùng ức chế bơm proton duy trì. Nếu khó nuốt: kết hợp thêm nong thực quản, nếu thất bại thì phẫu thuật. Chẩn đoán khởi đầu: Không có bằng chứng thuyết phục cho thấy nội soi tầm soát niêm mạc Barrett đem lại lợi ích thực tế . Theo dõi sau chẩn đoán: Ở bệnh nhân có loạn sản nặng hay ung thư giai đoạn sớm để can thiệp thích hợp làm tăng thời gian sống còn cho bệnh nhân .

Nội soi được thực hiện 2 năm 1 lần kèm theo sinh thiết 4 góc của thực quản cách nhau 2 cm dọc theo chiều dài của niêm mạc Barrett. Hiện chưa xác định được việc sàng lọc bệnh có thể giảm tử vong cho nên việc sàng lọc chỉ nên cân nhắc cho những bệnh nhân đủ khỏe cho cuộc mổ cắt thực quản nếu cần. Sàng lọc cho bệnh nhân có sang thương Barrett ngắn hơn 3 cm còn đang bàn cải vì nguy cơ ung thư thấp. Nếu loạn sản mức độ cao được xác định và không có ung thư, cắt thực quản có thể là một lựa chọn. Ngoài ra có thể theo dõi tích cực mỗi 3 tháng cho đến khi ung thư trong niêm mạc được phát hiện thì sẽ mổ cắt thực quản. Nhiễm H. pylori không làm tăng nguy cơ viêm thực quản do trào ngược.

Tương tự , nhiễm H. pylori ở hầu hết bệnh nhân có biểu hiện bệnh đau dạ dày cũng không làm giảm nguy cơ bị trào ngược và viêm thực quản. Tỉ lệ nhiễm H. pylori ở bệnh nhân trào ngược cũng tương đương tỉ lệ nhiễm của cộng đồng nói chung. Những nghiên cứu theo nhóm chứng không cho thấy sự khác biệt về tỉ lệ nhiễm H. pylori ở bệnh nhân viêm và không viêm thực quản. Tỉ lệ viêm thực quản cao hơn ở cộng đồng có tỉ lệ nhiễm H. pylori thấp chỉ nói lên sự khác biệt về mặt dịch tể chứ không phải là mối tương quan nguyên nhân hậu quả. Một nhóm nhỏ bệnh nhân nhiễm H. pylori chủng gây viêm nhiều hơn (như chủng có cagA dương tính) ít bị viêm thực quản nặng và thực quản Barrett. Nguyên nhân do sự nhiễm H. pylori ở những bệnh nhân này thường gây viêm thân dạ dày nặng kèm hiện tượng teo và chuyển sản ruột làm giảm lượng acid tiết ra . Tuy nhiên họ có nguy cơ ung thư dạ dày hay loét nhiều hơn nên việc tiệt trừ H. pylori cần đặt ra. Thuốc ức chế bơm proton làm nặng hơn tổn thương viêm dạ dày trên mô học bệnh nhân nhiễm H. pylori. Hiện tượng này kèm theo sự phát triển của teo niêm mạc dạ dày.

Leave a Reply